LỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT CHÙA GIẢI OAN YÊN TỬ

Suối Giải Oan

Sách Thiền môn đại ý viết: “Nhân Tông từ thuở nhỏ, đã sớm ý thức được  nguyên lý đạo Phật, ham chuộng cửa Không, chí muốn đi tu, chứ không ưng làm vua hưởng vinh hoa phú quý. Thánh Tông phải khuyên bảo: Sứ mệnh giao phó rất nặng nề, phải lo gánh vác trước hết. Nước nhà đang gặp buổi khó khăn trước cơn gian nguy do người phương Bắc sớm muộn gì cũng sẽ mang sự thôn tính nước ta. Bổn phận cứu muôn dân trăm họ là trên hết, có được làm nổi thì sau mới có thể tính đến sự tu hành giải thoát bản thân  và chúng sinh. Nhân Tông phải tuân lời lãnh nhiệm vụ chăm dân cứu nước. Sau khi đã làm tròn sứ mệnh bình đắc định nam xong, yên việc nước nhà, Nhân Tông  mới lại đi tu, đắc đạo”.
Nhân Tông (con trai Thánh Tông) sinh năm 1258, năm 21 tuổi lên ngôi vua (năm1278). Đến năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho con lớn là Thái tử Thuyên (Trần Anh Tông)  về phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Năm 1295 sau khi đánh quân Ai Lao trở về, Nhân Tông thượng hoàng xuất gia đầu Phật. Trước tu ở chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh – nay thuộc huyện Gia Khánh (Ninh Bình) – thời thường vẫn đi về kinh sư và phủ Thiên Trường. Đến năm 1299, Người mới chính thức đi tu tại vùng núi Yên Tử. Lấy hiệu là Yên Vân đại đầu đà.
Capture   Hành trình bắt đầu sự nghiệp đi tu tại Yên Tử, phải qua một con suối nhỏ. Truyền thuyết gắn liền với câu chuyện: khi Trần nhân Tông xuất gia đến núi Yên Tử tu hành, không muốn Thượng hoàng đi tu, vua Trần Anh Tông ngầm sai các cung tần mỹ nữ tìm đến đây can ngăn, xin vua trờ lại triều đình, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ở lại Yên Tử và khuyên họ trở về làm lại cuộc đời. Để tỏ lòng trung với vua, họ đã trẫm mình dưới suối. Một số trong các cung phi đó bị chết đuối nên  Trần Nhân Tông đã cho lập đàn để cúng giải oan cho linh hồn các cung phi ấy. Số cung nữ ấy định tự tử hết cả, Thượng hoàng đành phải cấp ruộng và nhà bên dưới chân núi, lập thành lành có tên là Năm Mẫu (mẫu ở đây chỉ cung nữ được hoàn trả về với cuộc sống thường ngày). Dòng suối ấy từ câu chuyện trên mà có tên là suối Giải Oan. Suối Giải Oan trở thành ranh giới giữa đời thường và sự nghiệp lãnh đạo. Đàn tràng nơi cúng giải oan cho các cung nữ chết đuối sau được lập thành chùa để thờ Phật, chùa cũng từ đó mà có tên là Giải Oan. Chùa gợi nhớ về sự kiện bắt đầu cuộc đời tu hành tại vùng núi Yên Tử của Trần Nhân Tông. Cũng tại khu vực chùa Giải Oan ngoài chùa chính ra còn có nhà thờ Mẫu, nơi thờ các vị thánh mẫu có mối liên hệ từ các cung nữ đã trẫm mình tại dòng suối Giải Oan. Đây là khu vực chùa đặc biệt so với các khu vực chùa khác trong hệ thống Yên Tử, là chùa duy nhất có nhà Mẫu. Qua đó, có sự gắn kết với câu chuyện truyền thuyết tại suối Giải Oan với phong tục thờ tự tại chùa Giải Oan. Cũng từ câu chuyện nhân văn gắn liền với truyền thuyết chùa Giải Oan mà cho thấy ở Đức vua Trần Nhân Tông có tấm lòng cao cả, khoan dung độ lượng mở đầu cho sự phát triển bền vững của dân tộc. Nhân Tông đi tu và đắc đạo, lập ra thiền phái Trúc Lâm, có hiệu là Đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tịnh Tuệ Giác hoàng Điều ngự. Vị đức vua có một không hai trong lịch sử của nước Đại Việt được vinh danh là Đức vua – phật hoàng.